Rối loạn cương dương

BỆNH LÝ NAM KHOA

11/2/20258 min read

1. Rối loạn cương dương là gì?

Rối loạn cương dương thay thế cho từ bất lực, là tình tràng mà người đàn ông không thể đạt tới hay duy trì sự cương dương vật đủ cứng để giao hợp thỏa mãn. Tình trạng này cần phải kéo dài hay lặp đi lặp lại ít nhất là 3 tháng.

Rối loạn cương dương thường đi kèm với những bệnh mạn tính như tiểu đường, tim mạch, cao huyết áp,….

Rối loạn cương dương chủ yếu do căng thẳng tâm lý gọi là rối loạn cương tâm lý và chiếm khoảng 10-50% các trường hợp rối loạn cương.

Rối loạn cương thực thể là rối loạn cương chủ yếu xảy ra bởi các bệnh mạch máu, thần kinh, nội tiết hay bệnh thực thể khác, chiếm 50-80% trường hợp.

2. Có nhiều người mắc bệnh này không?

Theo như 1 nghiên cứu thì nam giới độ tuổi 40-70 có khoảng 52% số người mắc. Tuổi càng cao thì rối loạn cương gặp càng nhiều.

3. Biểu hiện của rối loạn cương dương?

- Dương vật không cương cứng dù có ham muốn.

- Không duy trì cương cứng dương vật được lâu khi quan hệ.

4. Điều trị rối loạn cương dương?
Điều trị rối loạn cương dương bao gồm tư vấn tình dục, thay đổi lối sống, sử dụng thuốc, phẫu thuật,….

5. Tăng huyết áp và rối loạn cương dương

Rối loạn cương dương là một bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp, và nó gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống.

Những người bị THA có tần suất bị rối loạn cương dương gấp 2 lần những người có huyết áp bình thường.

Tăng huyết áp là nguyên nhân đứng thứ 2 sau đái tháo đường ở những bệnh lý hay gặp trên bệnh nhân rối loạn cương dương.

Cần đánh giá tình trạng rối loạn cương dương trước khi bắt đầu điều trị tăng huyết áp.

Tình trạng RLCD xảy ra do chính bệnh lý tăng huyết áp và cũng do thuốc điều trị THA.

Sau đây chúng ta hãy cùng nhau lượt qua các nhóm thuốc trị THA thường dùng hiện nay.

1. Nhóm thuốc lợi tiểu dùng để trị THA phổ biến là nhóm Thiazide: nhóm này có tác dụng phụ là gây RLCD

2. Nhóm thuốc chẹn beta, ví dụ các thuốc hay dùng trong tim mạch học như: Atenolol, Metoprolol, Bisoprolol, Nebivolol. Chỉ có Nebivolol là được chứng minh “thân thiện” với cương dương.

3. Nhóm thuốc hạ áp có tác động trung ương, ví dụ như Methyldopa, Clonidine: có tác dụng phụ gây RLCD

4. Nhóm thuốc chẹn receptor alpha: đại diện là Doxazosin. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy Doxazosin làm giảm tần suất bị RLCD trên bệnh nhân đang điều trị THA. Doxazosin cũng cải thiện độ nhạy với insulin, có tác động có lợi trên dung mạo lipid máu. Ngoài ra, Doxazosin giúp cải thiện lưu lượng nước tiểu ở bệnh nhân bị Tăng sinh lành tính tiền liệt tuyến. Vì THA, RLCD, Tăng sinh lành tính tiền liệt tuyến là những bệnh lý thường phối hợp trên bệnh nhân nam lớn tuổi, việc dùng Doxazosin có thể đặc biệt có lợi trên nhóm bệnh nhân này.

5. Nhóm thuốc Ức chế men chuyển Angiotensin như: Perindopril, Lisinopril, Ramipril, Enalapril…Nhóm này có tác động trung tính trên RLCD.

6. Nhóm Chẹn kênh Calci như: Amlodipine, Felodipine, Nicardipine, Nifedipine…Nhóm này có tác động trung tính trên RLCD.

7. Nhóm Chẹn thụ thể type 1của Angiotensin 2 (còn gọi là nhóm thuốc Ức chế thụ thể) như Losartan, Valsartan, Telmisartan…trong đó Losartan là thuốc được nghiên cứu nhiều nhất trên bệnh nhân THA có RLCD. Angiotensin II gây co cơ trơn ở thể hang, do đó nhóm Chẹn thụ thể có tác động có lợi trên RLCD.

Sau cùng, chúng ta cần nhớ một số nguyên tắc sau trong việc điều trị bệnh nhân THA có RLCD (xuất hiện trước khi dùng thuốc hạ huyết áp hay sau khi bắt đầu dùng thuốc).

1. Việc dùng những thuốc “thân thiện” với RLCD sẽ giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị THA hơn, nhờ đó giúp kiểm soát huyết áp tốt hơn.

2. Khi đang điều trị THA, nếu có các triệu chứng của RLCD thì phải xác định RLCD là do thuốc hay do THA. Nếu đã xác định do thuốc, thay thuốc hạ áp khác. Không bao giờ được ngưng thuốc khi không có ý kiến BS. Nếu xác định RLCD là do bản thân THA gây ra, có thể dùng thêm Sildenafil một khi huyết áp được kiểm soát. Lưu ý là không nên dùng Sildenafil ở bệnh nhân nam chưa được điều trị THA. Không dùng Sildenafil chung với thuốc chẹn receptor alpha, nhóm Nitrate.

3. Việc dùng thuốc hạ áp “thân thiện” với cương dương sẽ giúp giảm chi phí điều trị do giảm nhu cầu dùng Sildenafil cho những bệnh nhân THA bị RLCD.

6. Tiểu đường và rối loạn cương dương

Hầu hết bệnh nhân tiểu đường bị rối loạn cương dương là do nhiều yếu tố phối hợp như nội tiết, thần kinh, mạch máu và tâm thần.

- Nguyên nhân do bệnh lý mạch máu: Đái tháo đường không được kiểm soát thường dẫn tới xơ vữa dẫn tới hẹp thậm chí là tắc các mạch máu vùng chậu và nuôi dưỡng dương vật.

- Nguyên nhân nội tiết: Các bệnh lý đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa nói chung thường có cơ chế bệnh sinh riêng biệt gây đề kháng insulin, kháng leptin, tăng tiết aromatase mà hậu quả dẫn tới suy sinh dục thứ phát, giảm nồng độ Testosterone, đây là hormon giữ vai trò chủ đạo chức năng hoạt động tình dục nam giới do tác dụng kích thích vỏ não dẫn tới tăng tiết NO gây giãn động mạch dương vật làm cho dương vật cương cứng.

- Nguyên nhân thần kinh: Bệnh nhân đái tháo đường nhất là những bệnh nhân lạm dụng rượu, kiểm soát đường máu rồi thường bị tổn thương hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm ngoại vi dẫn tới mất khả năng gây cương cứng dương vật.

- Nguyên nhân tâm thần: Người bệnh đái tháo đường xu hướng dễ bị stress căng thẳng tinh thần, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm... làm ảnh hưởng rõ rệt tới hoạt động tình dục

Như vậy, rối loạn cương dương có thể không nguy hiểm nhưng sẽ là dấu hiệu sớm để báo động về sự hiện diện của các biến chứng nguy hiểm do bệnh đái tháo đường.

Chính vì vậy, điều trị rối loạn cương dương trên bệnh nhân đái tháo đường cần có sự tác động lên đa yếu tố nguy cơ, kiểm soát toàn diện các biến chứng và phối hợp đa chuyên khoa:

· Điều chỉnh chế độ ăn, lối sống: Bỏ hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, tăng cường hoạt động thể lực, chế độ ăn lành mạnh

· Điều chỉnh glucose máu: Bằng thuốc uống hay tiêm insulin là trọng tâm trong quá trình điều trị

· Điều trị các biến chứng mạch máu: Điều chỉnh cholesterol, sử dụng các thuốc giãn mạch, chống tắc mạch, chống xơ vữa

· Điều trị các biến chứng thần kinh, tâm thần nếu có

· Sử dụng các biện pháp điều trị đặc hiệu: Điều trị thay thế Testosterone, thuốc ức chế 5-Phosphodiesterase, liệu pháp sóng xung kích, hút áp lực âm, thuốc tiêm tại chỗ...