Giang mai

BỆNH LÝ LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC

11/5/20257 min read

Bệnh giang mai là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục hay gặp và đáng sợ, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể diễn tiến nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân gây bệnh là gì?

Bệnh giang mai do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây nên.

Đường lây bệnh

- Qua quan hệ tình dục dị tính, quan hệ tình dục đồng tính, quan hệ bằng miệng… Ngoài ra, nếu người bệnh và người lành có những tiếp xúc trực tiếp bề mặt da có trầy xước cũng có thể bị lây bệnh.

- Qua đường máu như khi dùng chung kim tiêm, truyền máu… trong quá trình tiêm chủng, điều trị bệnh.

- Qua đường mẹ truyền sang con trong suốt thai kỳ. Do đó, phụ nữ mang thai cần được xét nghiệm chẩn đoán ở cả 3 tam cá nguyệt để chắc chắn là bản thân không nhiễm bệnh hoặc có hướng xử lý kịp thời.

Thời gian ủ bệnh là bao lâu?

Thời gian ủ bệnh của giang mai trung bình 3-4 tuần (9-90 ngày). Đây là giai đoạn quan trọng để phát hiện và điều trị khỏi bệnh hoàn toàn. Lúc này, săng giang mai bắt đầu xuất hiện qua những nốt hình tròn, kích thước dưới 2cm, không gây đau, không có có gờ nổi cao.

Những tổn thương nghiêm trọng của giang mai sẽ xuất hiện trong khoảng từ 1-15 năm sau và gây nên nhiều biến chứng nặng nề cho người bệnh.

Triệu chứng bệnh là gì?

Triệu chứng tùy thuộc từng giai đoạn, và có những thời điểm lại không có triệu chứng mà phát hiện được nhờ xét nghiệm.

1. Giang mai sớm

  • Giang mai thời kỳ I: Người bệnh vẫn sinh hoạt bình thường và không có bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên, bệnh lại dễ lây nhiễm nhất trong giai đoạn này và cả giai đoạn tiếp theo. Thông thường, giai đoạn chính của bệnh giang mai bắt đầu trong khoảng 3-4 tuần (khoảng 9 – 90 ngày) sau khi nhiễm vi khuẩn. Người bệnh xuất hiện một vết loét nhỏ, tròn được gọi là săng. Săng không đau nhưng có khả năng lây nhiễm cao. Vết loét này có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể như miệng, bộ phận sinh dục hoặc hậu môn (hoặc có thể ở những vị trí ngoài sinh dục). Vết thương sẽ tự lành trong khoảng 3-10 tuần dù điều trị hay không. Người bệnh có thể không để ý thấy xuất hiện săng hoặc thấy săng tự mất. Nếu không được chẩn đoán và điều trị trong thời kỳ này, sau 4 – 8 tuần từ khi xuất hiện tổn thương ban đầu, bệnh sẽ tiến triển sang giang mai thời kỳ II

Hình 1: săng giang mai ở miệng

  • Giang mai thời kì II: Có nguy cơ lây nhiễm cao cho người khác. Giang mai thời kỳ này thường dễ bị nhầm lẫn với một bệnh lý khác như dị ứng thuốc, vảy nến. Với các dấu hiệu như phát ban trên da và đau họng. Các nốt phát ban này sẽ không gây ngứa và thường xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, nhưng cũng có thể ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể. Thậm chí, một số người không nhận thấy các nốt phát ban trước khi chúng biến mất. Các triệu chứng khác của giang mai giai đoạn 2 còn có thể bao gồm: đau đầu, sưng hạch bạch huyết, mệt mỏi, sốt, giảm cân, rụng tóc, đau nhức khớp…Có thể có dấu hiệu thần kinh: điếc một bên, liệt thần kinh mắt, viêm màng bồ đào, viêm màng não. Triệu chứng của giang mai thời kỳ II có thể tự mất đi dù không điều trị gì. Tuy nhiên, nếu người bệnh không được điều trị, bệnh sẽ tiến triển sang giang mai tiềm ẩn.

  • Giang mai tiềm ẩn: không có dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng. Vì thế chỉ có thể phát hiện bằng xét nghiệm huyết thanh.

2. Giang mai muộn

  • Giang mai thời kì III: Xuất hiện thường từ nhiều tháng, nhiều năm sau khi có săng trong một phần ba trường hợp nếu không điều trị. Biến chứng gồm: săng thương sâu, gôm ở da, xương, nội tạng, tim mạch và thần kinh. Ở giai đoạn này, người bệnh ít có khả năng lây nhiễm cho bạn tình vì xoắn khuẩn đã xâm nhập và khu trú vào phủ tạng, không còn ở da, niêm mạc.

Yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh là gì?

Bệnh chủ yếu lây truyền qua qua quan hệ tình dục không an toàn. Xoắn khuẩn xâm nhập qua da - niêm mạc của bộ phận sinh dục ít nhiều bị xây xát khi quan hệ tình dục sẽ gây bệnh tại chỗ (săng), đi vào máu và lan truyền khắp cơ thể. Các yếu tố làm tăng nguy cơ lây lan là bị nhiễm HIV/AIDS, bị các bệnh hay tổn thương ở bộ phận sinh dục, có hành vi tình dục không bảo vệ (quan hệ tình dục miệng - sinh dục, quan hệ tình dục đồng giới...).

Phòng ngừa nhiễm bệnh

- Xây dựng lối sống lành mạnh, chung thủy 1 vợ 1 chồng

- Thực hiện tình dục an toàn, có biện pháp bảo vệ

- Cần sàng lọc trước khi mang thai. Phát hiện và điều trị kịp thời cho mẹ nếu bị bệnh trong khi mang thai.

- Khi phát hiện bị bệnh cần điều trị sớm.

- Khám sàng lọc định kỳ hoặc khi có nghi ngờ.

Điều trị

Bệnh có thể được chữa khỏi hoàn toàn trong điều kiện phát hiện ở giai đoạn sớm, khi vi khuẩn chưa làm tổn thương sâu các cơ quan nội tạng như: tim mạch, thần kinh…

Ngay khi phát hiện bản thân có nguy cơ nhiễm giang mai, người bệnh nên nhanh chóng đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị. Đừng đợi đến khi bệnh xuất hiện các triệu chứng rõ ràng mới đi thăm khám thì tình trạng có thể đã trầm trọng và khó chữa khỏi hoàn toàn.

Với phụ nữ, trước khi có kế hoạch mang thai cũng cần phải kiểm tra xem có nhiễm vi khuẩn hay không. Nếu có, hãy dành thời gian điều trị dứt trước khi mang thai. Nếu phát hiện bệnh trong thai kỳ, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ sản khoa để có hướng xử lý, hạn chế nguy cơ lây nhiễm cho bé.