Các bệnh lý lây truyền thường gặp
BỆNH LÝ LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC
11/3/20259 min read


1. Báo động về tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục.
Viễm nhiễm đường sinh dục tác động tiêu cực đến nhiều chức năng quan trọng của cơ quan sinh dục bao gồm cả chức năng sinh sản. Viêm nhiễm đường sinh dục có thể có biểu hiện lâm sàng rất điển hỉnh, nhưng cũng có thể biểu hiện kín đáo thậm chí không có bất cứ biểu hiện gì. Thông thường viêm nhiễm đường sinh dục được chia làm 2 nhóm chính: viêm nhiễm đường sinh dục thông thường và bệnh lý lây truyền qua đường sinh dục. Hiện tình trạng viêm nhiễm sinh dục đang gia tăng nhanh chóng bởi hành vi tình dục của tuổi trẻ ngày nay đang thay đổi theo chiều hướng tăng nguy cơ hơn trước: tuổi bắt đầu sinh hoạt tình dục giảm xuống, tuổi kết hôn tăng lên, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không những tăng lên nhanh chóng mà còn thác loạn gây lây lan bệnh nhanh hơn.
2. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Đây là những căn bệnh khá phổ biến đươc hiểu là do tác nhân gây bệnh là những vi sinh vật có khả năng lây cho người khác khi tiếp xúc tình dục. Các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục không chỉ đơn thuần là sự tiếp xúc giữa 2 cơ quan sinh dục với nhau mà còn tiếp xúc giữa dịch tiết sinh dục của người này với niêm mạc (mắt, miệng, họng, hậu mô,…) của người khác, tiếp xúc với vùng da bị tổn thương. Ngoài ra còn có đường tiếp xúc phi tình dục như lây truyền qua máu và các sản phẩm từ máu, lây truyền từ mẹ sang con.
Hiện nay có hơn 30 loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng khác nhau được xác định là tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục.
- Nhóm vi khuẩn gồm: lậu, giang mai, hạ cam, chlamydia,…
- Nhóm virus gồm: HIV, viêm gan B, HPV, herpes sinh dục, CMV,…
- Nhóm ký sinh trùng: ghẻ, rận mu, trùng roi âm đạo,…
Có 8 tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến và chiếm đa số trong số hơn 30 tác nhân gây bệnh trên như: lậu, chlamydia, giang mai, trùng roi âm đạo, sùi mào gà sinh dục (HPV), herpes simplex, HIV, viêm gan B. Trong số 8 tác nhân lây nhiễm này, có 4 tác nhân có thể chữa được như: giang mai, lậu, chlamydia và trùng roi âm đạo.
2.1. Nhiễm khuẩn lậu cầu
Nhiễm khuẩn lậu cầu thường có thời gian ủ bệnh từ 3 ngày đến 3 tuần, với biểu hiện lâm sàng rất đa dạng theo giới, ở nam giới thì có 80-90% nhiễm lậu cầu có biểu hiện lâm sàng như tiểu buốt, ra mủ niệu đạo, sưng dương vật, nổi hạch bẹn, sốt,… và chỉ khoảng 10% hầu như không có biểu hiện lâm sàng hoặc biểu hiện kín đáo.
Điều trị lậu thực tế rất nhanh khỏi, nhưng có điều cần chú ý là nếu dung kháng sinh không đúng, không đủ liều thì vi khuẩn lậu có thể tiếp tục sống sót gậy bệnh trong đường tiết niệu sinh dục như viêm niệu đạo mạn tính, hội chứng tiết dịch niệu đạo, hẹp niệu đạo, viêm mào tinh, viêm tắc đường dẫn tinh.
Vi khuẩn lậu đáp ứng với rất nhiều kháng sinh, nếu bị lậu mà sử dụng kháng sinh thông thường thì phần lớn đều cải thiện được các triệu chứng khá tốt nhưng phần lớn kháng sinh đó lại không diệt hết hoàn toàn vi khuẩn lậu, chính vì vậy tuy hết dịch mủ (giảm 80-90% các dấu hiệu lâm sàng) những vẫn còn tiết ít dịch trong, nhầy và tình trạng đau buốt gần như không còn nên người bệnh và bác sỹ lầm tưởng là đã khỏi. Thực ra những trường hợp này chưa khỏi hẳn và chỉ một vài tuần sau các dấu hiệu đái buốt, nóng rát dọc niệu đạo lại tái phát, tiết dịch mủ vào buổi sáng lại xuất hiện. Kháng sinh đầu tay để điều trị lậu cầu là Ceftriaxon dùng 1 lần duy nhất. Trong trường hợp lậu có biến chứng thì cần dùng liều cao và kéo dài. Ngoài ceftriaxone thì các thuốc khác có thể sử dụng là Azithromycin dùng phối hợp với ceftriaxone hoặc cefixime.
2.2. Chlamydia
Chlamydia là một bệnh nhiễm khuẩn phổ biến nhất trong các bệnh lây truyền qua đường tình dục, thường hay mắc cùng với bệnh lậu và cần phải chú ý điều này để điều trị bệnh hiệu quả. Biểu hiện điển hình của bệnh là tình trạng viêm niệu đạo với các biểu hiện đi tiểu buốt có cảm giác rát bỏng trong niệu đạo, tiết dịch niệu đạo, nhưng phần lớn những người mắc bệnh không có biểu hiện. Mặc dù không có biểu hiện bệnh nhưng vi khuẩn này vẫn cứ âm thầm gây tổn hại tới đường sinh dục, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản.
Điều trị Chlamydia cũng không khó khăn, sử dụng kháng sinh Azithromycin và Doxycycline là nhóm kháng sinh đầu tay. Ngoài ra có thể sử dụng nhóm kháng sinh khác như: Tetracyclin, Erythromycine.
Chú ý, cần điều trị cả Chlamydia cùng với lậu trong các trường hợp được chẩn đoán lậu cấp mặc dù chưa có bằng chứng của nhiễm Chlamydia.
2.3. Giang mai
Là bệnh lây truyền với tần suất thấp hơn so với lậu và chlamydia, những tác động của giang mai tới đường sinh sản không nhiều nhưng lại rất nghiêm trọng đến sức khỏe của thai nhi, sức khỏe của bà mẹ cũng như gia tăng tỷ lệ tử vọng của em bé trong thai kỳ và sơ sinh. Giang mai lây truyền khi tiếp xúc với vết loét trên bộ phận sinh dục, hậu môn, trực tràng, môi hoặc miệng, hoặc từ mẹ sang con trong khi mang thai.
Chẩn đoán giang mai dựa vào tiền sử, khám lâm sàng và xét nghiệm, các xét nghiệm chẩn đoán giang mai như các kháng thể giang mai đặc hiệu TPHA, TPPA và các xét nghiệm gián tiếp do đáp ứng miễn dịch của vật chủ như RPR, VDRL với các giá trị chẩn đoán khác nhau.
Điều trị giang mai thì nên sử dụng peniculine chậm tiêm bắp sâu là cách điều trị hiệu quả nhất.
Một điều đặc biệt trong điều trị giang mai là sau khi điều trị xong, nếu thử lại các xét nghiệm chẩn đoán giang mai ban đầu thì hầu hết các xét nghiệm vẫn còn dương tính hay vẫn chưa thay đổi gì so với trước điều trị.
2.4. Sùi mào gà sinh dục
Sùi mào gà là bệnh gây nên do virus gây u nhú ở người (HPV – human papilloma virus) lây truyền qua đường tình dục và xuất hiện ở cả nam và nữ. Tổn thương là các u sùi có múi xuất hiện ở cơ quan sinh dục. Đặc biệt sùi mào gà sinh dục có thể biến chứng thành ác tính gây nên tình trạng ung thư cổ tử cung ở nữ và ung thư dương vật ở nam.
Bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn dưới mọi hình thức (bao gồm cả quan hệ bằng miệng, quan hệ qua đường hậu môn, hoặc những tiếp xúc sinh dục).
Ngoài ra, bệnh sùi mào gà cũng có thể lây nhiễm cho những người có khả năng miễn dịch kém, da niêm mạc bị trầy xước khi tiếp xúc trực tiếp với đồ dùng cá nhân có dính virus sùi mào gà của người bệnh như dùng chung đồ lót, quần áo, chăn màn, bàn chải đánh rang, khăn tắm,…
Bệnh sùi mào gà sinh dục có thể gặp ở cả cơ quan sinh dục nam và nữ. Thời gian ủ bệnh từ 2 – 9 tháng, sau đó mới bộc phát ra ngoài gây ra các tổn thương trên nên da hoặc niêm mạc.
Ban đầu chỉ là những mụn thịt nhỏ mề và không gây đau, không ngứa. Những nốt mụn này có thể cao lên như hình dạng nhú gai hoặc có hình đĩa bẹt tròn nhỏ màu hồng, có bề mặt thô ráp và đường kính khoảng 1-2 mm.
Về sau chúng phát triển nhiều và liên kết với nhau thành những gai hoặc lá rộng chi chit xung quanh như mào gà hay hoa súp lơ màu trắng hồng với chiều dài ước tính đạt đến vài cm. Các nốt sùi có bề mặt mềm, mủn ra, ẩm ướt, khi ấn vào giữa các nốt thấy dịch tiết ra gây đau đớn cho người bệnh.
Các nốt sùi mào gà sẽ xuất hiện trước tiên ở những chỗ có sự cợ sát tiếp xúc và ẩm ướt, sau đó chúng sẽ lan sang dần các vị trí khác. Đối với nam các nốt sùi mào gà thường xuất hiện ở miệng sáo, rãnh quy đầu, bao quy đầu, trên thân dương vật,…
Bệnh sùi mào gà thường gây ra sự khó chịu hay tâm lý lo lắng cho người bị nhiễm.
Hiện nay, bệnh sùi mào gà chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do đó người bệnh có thể mang mầm bệnh suốt đời ở tình trạng có hoặc không biểu hiện triệu chứng.
Liên hệ
Địa chỉ: 138 Đ. Văn Tiến Dũng, Phước Hải, Nha Trang, Khánh Hòa
Điện thoại 0968 153 339
© 2025. All rights reserved.
Zalo NamKhoaThanhBinh
Facebook Nam Khoa Thanh Bình
Giờ làm việc: 16h30 - 20h
Từ thứ 2 đến Chủ nhật
Chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ qua điện thoại, zalo, messenger, 24/7